NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM VỀ CHỔ Ở, ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ, BÍ MẬT CÁ NHÂN, BÍ MẬT GIA ĐÌNH, AN TOÀN VÀ BÍ MẬT THƯ TÍN, ĐIỆN THOẠI, ĐIỆN TÍN CÁ NHÂN
A. Căn cứ pháp lý
Bộ luật Tố tụng hình sự – Điều 12 “Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chổ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân”
Không ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân.
Việc khám xét chỗ ở; khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
B. Khái niệm
Hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành trên cơ sở tôn trọng và đảm bảo quyền con người, quyền công dân. Việc hạn chế hoặc can thiệp vào quyền lợi khi tiến hành tố tụng có thể được được thực hiện dựa trên cơ sở và trong sự phù hợp với luật định.
Hiến pháp nước ta quy định Công dân có quyền được pháp luật bảo vệ về chổ ở và giữ bí mật cá nhân tại chương II Quyền Con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Nguyên tắc này được cụ thể hóa quy định trên của Hiến pháp trong lĩnh vực tố tụng hình sự.
Cá nhân là một thực thể của tự nhiên và là chủ thể của quan hệ xã hội. Cá nhân với tư cách là chủ thể độc lập trong quan hệ xã hội, quan hệ dân sự, kinh tế, lao động, thương mại và các quan hệ khác trong phạm vi thời gian và không gian nhất định. Do vậy mỗi cá nhân có đời sống riêng tư, mà đời sống riêng tư là có bí mật cá nhân.
Chỗ ở của một người là nơi người đó sống đời sống riêng thường ngày, cũng là nơi cất giữ những bí mật đời tư bao gồm bí mật của cá nhân và gia đình người đó. Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở có thể hiểu là quyền của mỗi công dân được toàn quyền cho phép hoặc không cho phép người khác vào nơi ở của mình.
C. Nội dung của nguyên tắc
Bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân là một trong những quyền con người được quy định cụ thể tại Hiến pháp 2013 và được quy định cụ thể tại Điều 21 ““Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác…” và Điều 22 “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở…”
Từ quy định hiến định trên, đã được BLTTHS 2015 ghi nhận thành nguyên tắc cơ bản của TTHS. Trong suốt quá trình tiến hành tố tụng hình sự từ luôn luôn được tiến hành trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của mỗi cá nhân. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác, không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái pháp luật thư tín, điện thoại, điện tín của người khác mà chưa được sự đồng ý của chủ thể có quyền sở hữu, vì mỗi chủ thể đều quyền tự do trong quá trình giữ bí mật thông tin cá nhân, gia đình, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín hay bất khả xâm phạm về chỗ ở, trừ khi được chủ thể đó đồng ý cho phép.
Khám xét là hoạt động điều tra hình sự có tính cưỡng chế. Tính cưỡng chế xuất phát từ việc đối tượng khám xét này là về chổ ở, quyền bí mật cá nhân, thư tín,… quyền con người, quyền công dân khác. Khi tiến hành khám xét phải tuân thủ các quy định tại Chương XIII của Bộ LTTHS năm 2015 cụ thể tại điều 192 BLTTHS năm 2015. Cụ thể là phải chứng minh được có “căn cứ” các đối tượng này là do phạm tội mà có hoặc là có liên quan đến vụ án. “Căn cứ” để nhận định là kết quả của các hoạt động điều tra như lấy lời khai người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, người làm chứng, khám nghiệm hiên trường, các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt,…
Theo đó, khi có căn cứ những căn cứ trên thì mới được khám xét người. Việc khám xét người phải có lệnh của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định. Người có thẩm quyền ra lệnh khám người quy định tại Điều 193 BLTTHS năm 2015. Những người có thẩm quyền ban hành lệnh khám xét bao gồm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan Điều tra (CQĐT) các cấp; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân Dân (VKSND) và Viện trưởng, Phó viện trưởng VKSND các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án Nhân Dân và Chánh án, Phó chánh án Tòa án Quân sự các cấp; Hội đồng xét xử (HĐXX) được quy định tại khoản 1 Điều 113 BLTTHS năm 2015. Trong một số trường hợp khám xét lệnh khám xét phải được Viện kiểm sát phê duyệt hoặc thông báo cho VKSND.
D. Luật sư – VL Lawyers nhận đính
Nguyên tắc Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân trong tố tụng hình sự đã thể hiện rõ nét tính nhân quyền trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và tư pháp hình sự nói riêng. Đây là quy đinh kế thừa quy định của BLTTHS năm 2003 quy định khá đầy đủ và chi tiết các nội dung trong đời sống riêng tư cần được pháp luật bảo vệ của cá nhân. Đã sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và mở rộng đối tương được bảo đảm không chỉ là công nhân Việt Nam mà là cả những người nước ngoài đang sinh sống làm việc tại Việt Nam. Nguyên tắc trên được ghi nhận trong Công ước quốc tế về quyền con người, mà được nội lực quá thành những quy định cụ thể, thiết thực trong pháp luật Việt Nam. Từ đó, tạo nền tảng xây dựng nền tư pháp dân chủ, công bằng và xây dựng Nhà nước Pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân.
VL Lawyers rất vinh hạnh hợp tác phát triển cùng Quý vị! Vấn đề của bạn – Trách nhiệm của chúng tôi.
Trân trọng kính chào!
Luật sư Vũ Đức Lê – Trưởng văn phòng!



