NGUYÊN TẮC BẢO HỘ TÍNH MẠNG, SƯC KHỎE, DANH DỰ, NHÂN PHẨM, TÀI SẢN CỦA CÁ NHÂN; DANH DỰ, UY TÍN TÀI SẢN CỦA PHÁP NHÂN
A. Căn cứ pháp lý
Bộ luật Tố tụng hình sự – Điều 11 “Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân”
Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản.
Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lý theo pháp luật.
Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.”
B. Khái niệm
Trong quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của Hiếp pháp nước ta từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp 2013 quyền con người luôn được quan tâm và hiến định mang một ý nghĩa quan trọng. Việt Nam đã tích cực tham gia các công ước quốc tế và nghị định thư quan trọng về quyền con người và đã nội luật hóa các công ước và nghị định thư về Nhân quyền vào hệ thống pháp luật
Hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành trên cơ sở tôn trọng và bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản của cá nhân, pháp nhân. Việc hạn chế các quyền nói trên chỉ có thể được tiến hành cơ sở và trong sự phù hợp với các quy định của pháp luật.
Hiến pháp nước ta quy định Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm tại nhiều điều luật chương II. Nguyên tắc này cụ thể hóa quy định trên của Hiến pháp trong lĩnh vực tố tụng hình sự.
Để làm rõ nguyên tắc này trước tiên phải tiến hành tìm hiểu khái niệm về bảo hộ quyền nhân thân, quyền tài sản của các chủ thể.
Hiện nay pháp luật chưa có khái niệm rõ ràng về Bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản trong TTHS. Tuy nhiên qua những điều luật quy định riêng lẻ về quyền con người tại Hiến pháp 2013, BLTTHS 2015 và từ thực tiễn có thể đưa ra khái niệm Bảo hộ của nguyên tắc này là các biện pháp của nhà nước nhằm ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; uy tín, tài sản của pháp nhân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Các hành vi xâm phạm đến các quyền trên như: vũ lực ngoài trường hợp pháp luật cho phép; khám xét thu giữ tài sản một cách trái pháp luật, hành hạ, ngược đãi phạm nhân ở trại giam, bức cung, nhục hình,…
C. Nội dung của nguyên tắc
Khi có căn cứ cho thấy quyền tài sản và quyền nhân thân của cá nhân, pháp nhân là những người có tham gia vào quá trình tố tụng hình sự như người làm chứng, bị hại và người thân thích của họ,…mà bị xâm hại, hoặc bị đe dọa xâm hại do việc cung cấp chứng cứ, tài liệu, thông tin liên quan đến tội phạm thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải quyết định áp dụng những biện pháp bảo vệ có hiệu quả.
Các biện pháp bảo vệ được quy định tại điều 486 BLTTHS bao gồm: Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ;…nhưng cần lưu ý rằng khi áp dụng biện pháp bảo vệ thì không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người được bảo hộ.
Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật quyền tài sản và quyền nhân thân của cá nhân, pháp nhân đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế và hình phạt áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân phải có căn cứ pháp luật, do cơ quan có thẩm quyền áp dụng và tuân theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định.
Mọi hành vi có lỗi, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân đều bị xử lý theo quy định của pháp luật, trong đó có các biện pháp xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
Khi tiến hành tố tụng hình sự, phải đảm bảo quyền tài sản và quyền nhân thân của người bị buộc tội. Đảm bảo rằng họ không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.Không ai trở thành tội phạm hoặc bị tước đoạt tính mạng cho đến khi có bản án có hiệu lực pháp luật và có quyết định thi hành án hình sự.
Nguyên tắc bảo hộ công dân trong tố tụng hình sự còn được thể hiện bởi quy định: Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác. Đây là điểm mới bổ sung trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Nội dung này cụ thể hóa nguyên tắc chủ quyền quốc gia. Nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình xuất phát từ chủ quyền toàn vẹn và tuyệt đối của quốc gia.
D. Luật sư – VL Lawyers nhận định
Nguyên tắc Bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản của cá nhân, pháp nhân đã thể hiện rõ nét tính nhân quyền trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và tư pháp hình sự nói riêng. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền,mọi vấn đề về quản lý xã hội và quản lý nhà nước đều được tính hành dựa trên cơ sở là pháp luật. Đảm bảo Nhân quyền trong lĩnh vực pháp lý tố tụng hình sự là điều rất phức tạp và nhạy cảm, tuy nhiên những quy định trên luôn được kế thừa, tiếp nối và sửa đổi cho phù hợp với thời đại. Từ đây, xây dựng nền tảng cho một nền tư pháp dân chủ, công bằng, văn minh.
VL Lawyers rất vinh hạnh hợp tác phát triển cùng Quý vị! Vấn đề của bạn – Trách nhiệm của chúng tôi.
Trân trọng kính chào!
Luật sư Vũ Đức Lê – Trưởng văn phòng!



