TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH

A. Căn cứ pháp lý

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) – Điều 125. “Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”.

1. Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm”.

B. Các yếu tố cấu thành tội phạm

1. Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

2. Khách thể

Tội phạm này xâm phạm đến quyền được sống của con người, cụ thể là tính mạng của nạn nhân. Đối tượng tác động của tội phạm này là con người đang sống với ý nghĩa là một thực thể tự nhiên.

3. Mặt chủ quan

Người phạm tội với lỗi cố ý có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Với mục đích là tước đoạt mạng sống của nạn nhân, tuy nhiên người phạm tội là có mục đích giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Trường hợp, người phạm tội có mục đích giết người mà không nằm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh người người phạm tội sẽ chịu trách nhiệm hình sự với Tội giết người tại Điều 123 BLHS.

4. Mặt khách quan

Về hành vi

– Hành vi khách quan của Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi tước đoạt tính mạng của người đã làm cho chủ thể của tội phạm lâm vào tình trạng trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của mình. Hành vi tước đoạt mạng sống có thể là đâm, chém, bắn…

– Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trạng thái tâm lý của người phạm tội đã không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế hành vi của bản thân do tác động của yếu khách quan đó là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân. Đây là dấu hiệu đặc trưng của tội này.

Về dấu hiệu khác.

– Hành vi giết người phải xuất phát nguyên nhân từ nạn nhân. Nạn nhân có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của họ như: vợ, con, ông, bà, cha, mẹ,…của người đó. Đây là dấu hiệu cấu thành bắt buộc của tội này.

– Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng thông thường là hành vi xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người phạm tội hoặc người thân thích của họ nhưng chưa đủ cấu thành tội phạm cụ thể.

C. Luật sư – VL Lawyers nhận định

Giết người do sử dụng chất kích thích không phải là Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Dấu hiệu cấu thành bắt buộc của tội này là có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân xâm phạm đến người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội. Do đó, việc người phạm tội sử dụng chất kích thích làm ảnh hưởng đến nhận thức và điều khiển hành vi có dấu hiệu cấu thành ở một tội khác, không cấu thành tội này.

Sự kích động trong trạng thái tâm lý của người phạm tội chỉ là tức thời. Do có hành vi trái pháp luật từ nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn đến hành vi giết người. Cũng có một số trường hợp đặc biệt, do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó âm ỉ, kéo dài đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không thể kiềm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không bị coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc thì được coi là mạnh hoặc rất mạnh.

Lưu ý khi xác định kích động và kích động mạnh.  Để xác định tinh thần của người phạm tội có thể bị kích động mạnh hay không cần phải xem xét một cách khách quan, toàn diện các mặt: thời gian, hoàn cảnh, địa điểm, diễn biến, nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp của sự việc; mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội, trình độ văn hóa, chính trị, tính tình, cá tính của mỗi bên; mức độ nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật của nạn nhân, mối quan hệ nhân quả trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân với tình trạng tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội.

Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trường hợp giảm nhẹ đặc biệt của Tội giết người (Điều 123). Vì thế Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và Tội giết người có những dấu hiệu phạm tội tương tự nhau. Bên cạnh đó, Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có những dấu hiệu định tội tương tự với Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 126), vì vậy cách phân biệt hai tội danh trên như sau:

– Về đối tượng tác động:

+ Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có đối tượng tác động là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với chính người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội. Và hành vi trái pháp luật này là nguyên nhân khiến cho người phạm tội rơi vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

+ Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng có đối tượng tác động là người đang có hành vi xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội, lợi ích chính đáng của công dân hoặc là người phạm tội.

– Về trạng thái tinh thần của người phạm tội:

+ Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh: Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi của mình.

+ Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng: Người phạm tội có thể bị kích động về tinh thần hoặc có thể không bị kích động.

– Về hành vi:

+ Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh: Có hành vi tước đoạt tính mạng của nạn nhân – người có những hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội.

+ Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng: Phải có hành vi chống trả vượt quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm hoặc sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ tội phạm.

Như vậy, để phân biệt hai tội danh trên ta cần dựa vào đối tượng tác động, hành vi khách quan và trạng thái tinh thần của người phạm tội để làm căn cứ xác định.

Hãy liên hệ với VL Lawyers khi Quý vị hoặc Người thân của Quý vị không may đã phạm tội. Vấn đề của bạn, trách nhiệm của của VL Lawyers.

VL Lawyers rất vinh hạnh hợp tác phát triển cùng Quý vị!

Trân trọng kính chào!

Luật sư Vũ Đức Lê – Trưởng văn phòng!

VỤ ÁN TIÊU BIỂU – VL LAWYERS

Vụ án Công ty Alibaba: 

Luật sư Vũ Đức Lê – Trưởng văn phòng, là Luật sư chính thức cùng bào chữa cho Chủ tịch Nguyễn Thái Luyện, Tổng giám đốc Nguyễn Thái Lĩnh, Trợ lý chủ tịch Nguyễn Thái Lực và Giám đốc tài chính Võ Thị Thanh Mai trong vụ án Tập đoàn địa ốc Alibaba với nhiều kỷ lục được xác lập trong lĩnh vực tố tụng Việt Nam…. Xem thêm.

THAM KHẢO THÊM

 

NGUYÊN TẮC PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

Nguyên tắc “Suy đoán vô tội” – Điều 13 – Luật tố tụng hình sự:
Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội… Xem thêm.

Nguyên tắc “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” – Điều 14 – Luật tố tụng hình sự:
Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm… Xem thêm.

Nguyên tắc “Xác định sự thật vụ án” – Điều 15 – Luật tố tụng hình sự:
Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội… Xem thêm.

LUẬT SƯ DÂN SỰ
Dân gian có câu Vô phúc đáo tụng đình! Tuy nhiên thực tế không thể phủ nhận rằng trong các quan hệ xã hội, quan hệ pháp luật dân sự là phổ biến và bất cứ ai trong đời đều phải trãi nghiệm theo nhiều nghĩa khác nhau.Về cơ bản quan hệ pháp luật dân sự là tổng hợp những quy phạm điều chỉnh các quan quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản trong giao kết dân sự trên cơ sở bình đẳng, tự định đoạt và tự chịu trách nhiệm của các chủ thể tham gia… xem thêm.

LUẬT SƯ KINH DOANH – THƯƠNG MẠI
Doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh, phát sinh rất nhiều nghiệp vụ trên cơ sở các tương tác cộng sinh và độc lập với các đối tác, theo xu hướng tất yếu rằng nhân vô thập toàn, và thế nên việc xung đột, tranh chấp việc yêu cầu các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo các thỏa thuận, cam kết, hợp đồng là điều cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Doanh nghiệp nghiệp mình… xem thêm.

LUẬT SƯ HÀNH CHÍNH
Quan hệ pháp luật Hành chính về cơ bản là điều chỉnh các Hành vi và Quyết định hành chính của các cá nhân và tổ chức nhân danh các cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong việc giải quyết các yêu cầu của cá nhân và tổ chức. Khi tham gia tương tác các quan hệ pháp luật về hành chính, cá nhân và tổ chức có quyền Khiếu nại, Tố cáo, và Khởi kiện ra Tòa án hành chính đối với các Hành vi và Quyết định hành chính khi có cơ sở cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm… xem thêm.

LUẬT SƯ BẢO HIỂM
Bảo hiểm nhân thọ là phương thức bảo vệ trước những tổn thất tài chính, tính mạng, sức khỏe. Mang tính trách nhiệm và nhân văn sâu sắc với chính bản thân người tham gia với gia đình của mình, và là hình thức quản lý rủi ro, chủ yếu được sử dụng để bảo hiểm cho những rủi ro ngẫu nhiên hoặc tổn thất có thể xảy ra. Với tiêu chí nêu trên, hiện nay có rất nhiều cá nhân và tổ chức đã chủ động tham gia các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ và các sản phẩm bảo hiểm khác của các tập đoàn Bảo hiểm trong và ngoài nước như Bảo Việt, Prudential, AIA, Manulife, Phú Hưng, Cathay, Hanwha life… xem thêm.

LUẬT SƯ PHÁP LÝ NHÀ ĐẤT
Dân gian có câu An cư lạc nghiệp! Nhà Đất là loại tài sản đặc biệt mà chúng ta đều mong muốn được sở hữu và pháp lý Nhà Đất được điều chỉnh bởi Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản và nhiều quan hệ pháp luật khác liên quan. Về cơ bản các nghiệp vụ pháp lý liên quan đến Nhà Đất như sau… xem thêm.

LUẬT SƯ HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH
Hôn nhân và Gia đình là biểu hiện mối quan hệ xã hội giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên trong gia đình. Theo đó, quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình là những quan hệ xã hội mà được các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn, Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình… xem thêm.

LUẬT SƯ LAO ĐỘNG
Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê, sử dụng lao động. Hiện nay kinh tế – xã hội ngày càng phát triển thì quan hệ lao động cần phải được chuẩn hóa pháp lý để Người sử dụng lao động và Người lao động nhận thức được các quyền và nghĩa vụ với nhau, và các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, để duy trì ổn định nhân sự, hướng tới phát triển doanh nghiệp bền vững trên tinh thần tôn trọng và bảo vệ lợi ích lẫn nhau theo quy định pháp luật và tình người… xem thêm.

LUẬT SƯ RIÊNG CHO CÁ NHÂN – GIA ĐÌNH
Luật sư với sứ mệnh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân khi những vấn đề pháp lý rắc rối phát sinh, ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Khi có các hoạt động liên quan đến pháp luật thì Luật sư riêng sẽ thay mặt thân chủ thực hiện các thủ tục cần thiết đảm bảo an toàn pháp lý cho thân chủ… xem thêm.

LUẬT SƯ DI CHÚC – THỪA KẾ
Di chúc – Thừa kế là một trong các quan hệ pháp luật phức tạp và thường phát sinh tranh chấp. Để có thể làm rõ các vấn đề Di chúc – Thừa kế , trước hết phải hiểu được một số vấn đề sau: Di chúc là gì, các hình thức di chúc; Thừa kế là gì, các quyền thừa kế, các hình thức thừa kế, xác định thời điểm mở thừa kế, di sản thừa kế, người thừa kế, phân chia di sản thừa kế và một số các vấn đề khác liên quan đến thừa kế khác. Thừa kế được thể hiện dưới hai hình thức theo di chúc và theo pháp luật… xem thêm.

GIÁM ĐỐC THẨM – TÁI THẢM BẢN ÁN
Theo quy định pháp luật về Tố tụng dân sự, trình tự xét xử vụ án bao gồm Sơ thẩm và Phúc thẩm được thực hiện khi có yêu cầu, kháng nghị hợp pháp từ các đương sự hoặc chủ thể tham gia tố tụng thì thủ tục Giám đốc thẩm, Tái thẩm được xem là thủ tục đặc biệt có vai trò xem xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đang được thi hành, nhưng bị yêu cầu, kháng nghị vì phát hiện có những sai phạm nghiêm trọng trong giải quyết vụ án. Vì thế, khác với các thủ tục thông thường, Giám đốc thẩm, Tái thẩm là cơ chế đặc biệt nhằm khắc phục những sai lầm nghiêm trọng của Tòa án trong quá trình giải xét xử vụ án… xem thêm.

Luật sư tố tụng  Luật sư doanh nghiệp Luật sư pháp lý nhà – đất
Luật sư thi hành án Tư vấn doanh nghiệp Soạn đơn – hợp đồng
Luật sư dự án – đầu tư Luật sư sở hữu trí tuệ Dịch vụ nước ngoài