TỘI BẮT, GIỮ HOẶC GIAM NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT

A. Căn cứ pháp lý

Bộ luật Hình sự 2015 – Điều 157. “Tội bắt, giữ hoặc giam người trái luật”

1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người thi hành công vụ;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Làm cho gia đình người bị giam, giữ lâm vào tình trạng khó khăn, quẫn bách;

h) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật từ 11% đến 45%.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Làm người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật chết hoặc tự sát;

b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục phẩm giá nạn nhân;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật 46% trở lên.

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

B. Các yếu tố cấu thành tội phạm

Để xác định một người phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật phải thỏa đồng thời 4 yếu tố sau:

1. Chủ thể

Chủ thể của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

2. Khách thể

Khách thể của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do cá nhân của con người. Đây là những quyền cơ bản của công dân và được pháp luật bảo vệ.

3. Mặt khách quan

Thứ nhất, về hành vi

Bắt người trái pháp luật là hành vi của một người hoặc một nhóm người không có thẩm quyền, khống chế người khác không theo đúng các quy định của pháp luật để tạm giữ hoặc tạm giam họ. Việc khống chế này có thể dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác như trói, còng tay,…

Giữ người trái pháp luật là hành vi của một người hoặc một nhóm người không có thẩm quyền, ngăn cản người khác di chuyển vượt ra ngoài sự kiểm soát của mình, trong một khoảng thời gian nhất định không theo đúng các quy định của pháp luật.

– Giam người trái pháp luật là hành vi của một người hoặc một nhóm người không có thẩm quyền, giam giữ, cách ly người khác trái phép ở một địa điểm và trong một khoảng thời gian nhất định.

Thứ hai, về dấu hiệu khác.

Hành vi bắt, giữ hoặc giam người nêu trên phải trái với pháp luật, đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản. Dấu hiệu trái pháp luật được thể hiện qua các đặc điểm sau:

– Người không có thẩm quyền nhưng lại thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người khác.

– Hậu quả của tội này thường làm cho người bị hại hoặc do bị uất ức dẫn đến tự sát, hoặc bị tra tấn dùng nhục hình, gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác,… Tuy nhiên hậu quả không là dấu hiệu định tội của tội danh này mà chỉ có ý nghĩa trong định khung hình phạt hoặc lượng hình.

4. Mặt chủ quan

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ mức độ nguy hiểm do hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật, nhìn thấy trước hậu quả gây tổn hại đến thân thể, quyền tự do của nạn nhân nhưng vẫn mong muốn tội phạm xảy ra.

Mục đích: Người phạm tội thực hiện có thể vì nhiều động cơ và mục đích khác nhau, tuy nhiên đây không phải là dấu hiệu bắt buộc.

C. Luật sư – VL Lawyers nhận định

Không đồng nhất Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là một. Như đã phân tích ở trên, mặc dù cả 03 tội được thể hiện trong cùng một điều luật nhưng đó là 03 tội khác nhau. Nếu người phạm tội cấu thành tội nào thì xử lý theo tội đó, nếu phạm 02 hoặc 03 tội thì phải tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)

Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nếu đi kèm với hành vi khác như hiếp dâm, đòi tài sản,…thì có thể cấu thành một tội độc lập khác. Trường hợp người phạm tội bắt người trái pháp luật sau đó tiếp tục hành vi hiếp dâm thì sẽ cấu thành thêm Tội hiếp dâm và phải chịu trách nhiệm hình sự về cả hai tội danh này. Trường hợp người bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nhưng không có mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác (đưa ra yêu sách về tài sản đối với thân nhân của người bị bắt) thì hành vi này cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà không cấu thành tội này.

Người thi hành công vụ bắt người trái pháp luật có thể không cấu thành tội phạm này. Như đã phân tích ở trên, tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, nếu người thi hành công vụ bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật do thiếu trách nhiệm hoặc do trình độ nghiệp vụ non kém thì được xác định là có lỗi vô ý và đương nhiên không phải chịu trách nhiệm về tội này.

Phân biệt Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) và Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật (Điều 377 BLHS).

Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật hay lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật đều là những hành vi vi phạm bị pháp luật nghiêm cấm và được Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định cụ thể. Ở hai tội danh này đều mang những nét tương đồng nhất định. Tuy nhiên, Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật và Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật là hai loại tội phạm hoàn toàn khác nhau và cũng được điều chỉnh bởi những nội dung pháp luật khác nhau.

– Về khách thể:

+ Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật: quyền bất khả xâm phạm về thân thể, và quyền tự do đi lại của công dân được pháp luật bảo vệ.

+ Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật: quyền bất khả xâm phạm về thân thể, và quyền tự do đi lại của công dân được pháp luật bảo vệ. Bên cạnh đó, tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật còn xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan tư pháp.

– Về hành vi:

+ Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật: thể hiện dưới dạng hành động.

+ Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật: thể hiện dưới dạng không hành động.

– Về chủ thể:

+ Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật: người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, và có thể là bất kỳ ai.

+ Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật: người từ đủ 18 tuổi trở lên và đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bao gồm các chủ thể đặc biệt được quy định theo pháp luật, cụ thể: Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Thẩm phán; Giám thị trại giam, trại cải tạo.

– Yếu tố lỗi:

+ Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật: tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp.

+ Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật: Người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý. Trong đó, bao gồm  lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp.

Như vậy, để nhận biết hai tội danh trên cần phải dựa vào khách thể, hành vi, chủ thể và yếu tố lỗi làm căn cứ để xác định tội danh.

VL Lawyers – Vấn đề của bạn, trách nhiệm của chúng tôi. Hãy liên hệ với VL Lawyers khi Quý vị hoặc Người thân của Quý vị không may đã phạm tội.

VL Lawyers rất vinh hạnh hợp tác phát triển cùng Quý vị!

Trân trọng kính chào!

Luật sư Vũ Đức Lê – Trưởng văn phòng!

VỤ ÁN TIÊU BIỂU – VL LAWYERS

Vụ án Công ty Alibaba: 

Luật sư Vũ Đức Lê – Trưởng văn phòng, là Luật sư chính thức cùng bào chữa cho Chủ tịch Nguyễn Thái Luyện, Tổng giám đốc Nguyễn Thái Lĩnh, Trợ lý chủ tịch Nguyễn Thái Lực và Giám đốc tài chính Võ Thị Thanh Mai trong vụ án Tập đoàn địa ốc Alibaba với nhiều kỷ lục được xác lập trong lĩnh vực tố tụng Việt Nam…. Xem thêm.

THAM KHẢO THÊM

 

NGUYÊN TẮC PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

Nguyên tắc “Suy đoán vô tội” – Điều 13 – Luật tố tụng hình sự:
Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội… Xem thêm.

Nguyên tắc “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” – Điều 14 – Luật tố tụng hình sự:
Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm… Xem thêm.

Nguyên tắc “Xác định sự thật vụ án” – Điều 15 – Luật tố tụng hình sự:
Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội… Xem thêm.

LUẬT SƯ DÂN SỰ
Dân gian có câu Vô phúc đáo tụng đình! Tuy nhiên thực tế không thể phủ nhận rằng trong các quan hệ xã hội, quan hệ pháp luật dân sự là phổ biến và bất cứ ai trong đời đều phải trãi nghiệm theo nhiều nghĩa khác nhau.Về cơ bản quan hệ pháp luật dân sự là tổng hợp những quy phạm điều chỉnh các quan quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản trong giao kết dân sự trên cơ sở bình đẳng, tự định đoạt và tự chịu trách nhiệm của các chủ thể tham gia… xem thêm.

LUẬT SƯ KINH DOANH – THƯƠNG MẠI
Doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh, phát sinh rất nhiều nghiệp vụ trên cơ sở các tương tác cộng sinh và độc lập với các đối tác, theo xu hướng tất yếu rằng nhân vô thập toàn, và thế nên việc xung đột, tranh chấp việc yêu cầu các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo các thỏa thuận, cam kết, hợp đồng là điều cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Doanh nghiệp nghiệp mình… xem thêm.

LUẬT SƯ HÀNH CHÍNH
Quan hệ pháp luật Hành chính về cơ bản là điều chỉnh các Hành vi và Quyết định hành chính của các cá nhân và tổ chức nhân danh các cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong việc giải quyết các yêu cầu của cá nhân và tổ chức. Khi tham gia tương tác các quan hệ pháp luật về hành chính, cá nhân và tổ chức có quyền Khiếu nại, Tố cáo, và Khởi kiện ra Tòa án hành chính đối với các Hành vi và Quyết định hành chính khi có cơ sở cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm… xem thêm.

LUẬT SƯ BẢO HIỂM
Bảo hiểm nhân thọ là phương thức bảo vệ trước những tổn thất tài chính, tính mạng, sức khỏe. Mang tính trách nhiệm và nhân văn sâu sắc với chính bản thân người tham gia với gia đình của mình, và là hình thức quản lý rủi ro, chủ yếu được sử dụng để bảo hiểm cho những rủi ro ngẫu nhiên hoặc tổn thất có thể xảy ra. Với tiêu chí nêu trên, hiện nay có rất nhiều cá nhân và tổ chức đã chủ động tham gia các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ và các sản phẩm bảo hiểm khác của các tập đoàn Bảo hiểm trong và ngoài nước như Bảo Việt, Prudential, AIA, Manulife, Phú Hưng, Cathay, Hanwha life… xem thêm.

LUẬT SƯ PHÁP LÝ NHÀ ĐẤT
Dân gian có câu An cư lạc nghiệp! Nhà Đất là loại tài sản đặc biệt mà chúng ta đều mong muốn được sở hữu và pháp lý Nhà Đất được điều chỉnh bởi Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản và nhiều quan hệ pháp luật khác liên quan. Về cơ bản các nghiệp vụ pháp lý liên quan đến Nhà Đất như sau… xem thêm.

LUẬT SƯ HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH
Hôn nhân và Gia đình là biểu hiện mối quan hệ xã hội giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên trong gia đình. Theo đó, quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình là những quan hệ xã hội mà được các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn, Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình… xem thêm.

LUẬT SƯ LAO ĐỘNG
Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê, sử dụng lao động. Hiện nay kinh tế – xã hội ngày càng phát triển thì quan hệ lao động cần phải được chuẩn hóa pháp lý để Người sử dụng lao động và Người lao động nhận thức được các quyền và nghĩa vụ với nhau, và các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, để duy trì ổn định nhân sự, hướng tới phát triển doanh nghiệp bền vững trên tinh thần tôn trọng và bảo vệ lợi ích lẫn nhau theo quy định pháp luật và tình người… xem thêm.

LUẬT SƯ RIÊNG CHO CÁ NHÂN – GIA ĐÌNH
Luật sư với sứ mệnh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân khi những vấn đề pháp lý rắc rối phát sinh, ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Khi có các hoạt động liên quan đến pháp luật thì Luật sư riêng sẽ thay mặt thân chủ thực hiện các thủ tục cần thiết đảm bảo an toàn pháp lý cho thân chủ… xem thêm.

LUẬT SƯ DI CHÚC – THỪA KẾ
Di chúc – Thừa kế là một trong các quan hệ pháp luật phức tạp và thường phát sinh tranh chấp. Để có thể làm rõ các vấn đề Di chúc – Thừa kế , trước hết phải hiểu được một số vấn đề sau: Di chúc là gì, các hình thức di chúc; Thừa kế là gì, các quyền thừa kế, các hình thức thừa kế, xác định thời điểm mở thừa kế, di sản thừa kế, người thừa kế, phân chia di sản thừa kế và một số các vấn đề khác liên quan đến thừa kế khác. Thừa kế được thể hiện dưới hai hình thức theo di chúc và theo pháp luật… xem thêm.

GIÁM ĐỐC THẨM – TÁI THẢM BẢN ÁN
Theo quy định pháp luật về Tố tụng dân sự, trình tự xét xử vụ án bao gồm Sơ thẩm và Phúc thẩm được thực hiện khi có yêu cầu, kháng nghị hợp pháp từ các đương sự hoặc chủ thể tham gia tố tụng thì thủ tục Giám đốc thẩm, Tái thẩm được xem là thủ tục đặc biệt có vai trò xem xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đang được thi hành, nhưng bị yêu cầu, kháng nghị vì phát hiện có những sai phạm nghiêm trọng trong giải quyết vụ án. Vì thế, khác với các thủ tục thông thường, Giám đốc thẩm, Tái thẩm là cơ chế đặc biệt nhằm khắc phục những sai lầm nghiêm trọng của Tòa án trong quá trình giải xét xử vụ án… xem thêm.

Luật sư tố tụng  Luật sư doanh nghiệp Luật sư pháp lý nhà – đất
Luật sư thi hành án Tư vấn doanh nghiệp Soạn đơn – hợp đồng
Luật sư dự án – đầu tư Luật sư sở hữu trí tuệ Dịch vụ nước ngoài