NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI, BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI, ĐƯƠNG SỰ
Nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Hiến pháp và Pháp luật giữ vai trò tối thượng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và quản lý nhà nước. Ghi nhận và bảo vệ quyền con người trên thực tế là thể hiện của một nhà nước tiến bộ, dân chủ, văn minh. Cụ thể hơn Nhà nước quy định các quyền của cơ bản của con người trong Hiến Pháp 2013 tại Chương II. Trong lĩnh vực tư pháp hình sự vấn đề về bảo vệ quyền con người được nhà lập pháp chú trọng và quan tâm, tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp 2013 “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”, quy tắc này xuất hiện xuyên suốt từ bản Hiến Pháp đầu tiên đến Hiến pháp hiện hành với mục đích bảo vệ quyền con người, hoạt động tố tụng hình sự diễn ra khách quan, công bằng, kết án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
A. Căn cứ pháp lý
Bộ luật tố tụng hình sự – Điều 16 “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự”
Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.
Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này.
B. Khái niệm
Để làm rõ nguyên tắc này trước tiên phải tiến hành tìm hiểu khái niệm Người bị buộc tội. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự 2015 quy định:
“Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.
Hiện nay pháp luật chưa có khái niệm và quy định cụ thể nào về người bị bắt, tuy nhiên có thể hiểu trên thực tế người bị bắt là người mà hành vi của họ có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự và bị cơ quan chức năng ra quyết định bắt giữ theo quy định pháp luật. Còn người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền. Thêm vào đó, bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố hình sự theo quyết định của cơ quan chức năng. Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Nếu bị can hoặc bị cáo là pháp nhân thì quyền và nghĩa vụ sẽ được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự (TTHS).
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát Người bị buộc tội là người hoặc pháp nhân bị tình nghi thực hiện hành vi mà pháp luật hình sự xem là tội phạm. Dựa trên cơ sở chứng cứ của cơ quan chức năng theo một tiến trình tố tụng hình sự theo quy định. Người bị buộc tội phải đã bị cơ quan, người có thẩm quyền đưa ra một quyết định tố tụng cụ thể như: Lệnh bắt; quyết định tạm giữ; quyết định khởi tố bị can; quyết định truy tố; quyết định đưa vụ án ra xét xử… Các quyết định này đều gắn với chủ thể Người bị buộc tội nhất định và họ có quyền và nghĩa vụ trở thành người tham gia tố tụng hình sự.
Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa thì: “Bào chữa là dùng lời lẽ, chứng cớ để bênh vực một việc”. Tuy nhiên qua thực tiễn, có thể hiểu khái niệm quyền bào chữa trong TTHS là tổng hợp tất cả hoạt động tố tụng của người bị bắt, bị tạm giam, bị can, bị cáo theo quy định pháp luật để nhằm đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình TTHS.
C. Nội dung của nguyên tắc
“Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.
Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”
Quyền bào chữa xuất hiện từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người, có quyết định tạm giữ hoặc từ khi khởi tố bị can. Quyền bào chữa kết thúc khi vụ án được xét xử và bản án đã có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp đặc biệt, khi những căn cứ của việc buộc tội không còn, chủ thể có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án thì chức năng bào chữa sẽ kết thúc.
Bằng việc thực hiện những hành vi cụ thể, theo Luật định người bị buộc tội và người bào chữa sẽ làm sáng tỏ những bằng chứng, chứng cứ để nhầm mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng chứng minh quyền lợi cho người bị buộc tội. Đó có thể là hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng; hoặc nhằm đưa ra chứng cứ nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của người bị buộc tội;…
Bào chữa là hoạt động cơ bản có trong TTHS đối trọng trực tiếp với chức năng buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng. Chính sự đặc trưng này, tạo nên quá trình tiến hành tố tụng hình sự được công bằng, khách quan.
Nguyên tắc Quyền bào chữa tại Điều 16 BLTTHS 2015 đã cụ thể hóa những quy định của Điều 31 Hiến pháp năm 2013 “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” nhằm bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, giúp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án giải quyết vụ án khách quan, toàn diện và chính xác
D. Luật sư – VL Lawyers nhận định
Nguyên tắc Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội đã thể hiện rõ nét tính nhân quyền trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và tư pháp hình sự nói riêng. Nguyên tắc này thể hiện được tính nhân đạo, công bằng của pháp luật Việt Nam đối với người bị buộc tội. Khi đảm bảo quyền bào chữa xuyên suốt quá trình tố tụng hình sự thông qua những hành động cụ thể theo luật định sẽ là đối trọng trực tiếp với hoạt động buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng. Điều này tạo nên sự khách quan, công bằng và hạn chế xảy ra oan sai đối với người bị buộc tội. Nguyên tắc này tuy không mới đã được chú trọng ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 tại Điều 67 “Người bị cáo được quyền tự bào chữa hoặc mượn luật sư” và luôn được duy trì đổi mới để phù hợp với thời đại pháp luật.
Tuy nhiên, hạn chế của nguyên tắc này là chưa có hướng dẫn thực thi trên thực tế. Việc ghi nhận nguyên tắc pháp lý xuyên suốt trong BLTTHS 2015 là điều tiến bộ, có lợi cho hoạt động tố tụng nhưng chỉ dừng lại ở nguyên tắc là chưa đủ tạo nên việc khó triển khai trên thực tế. Phần lớn người bị buộc tội đang ở “thế yếu” bản thân họ đã bị hạn chế các quyền nhân thân như quyền tự do đi lại, quyền tiếp cận thông tin,… Ngoài ra kiến thức pháp luật của họ bị hạn chế họ khó biết khi nào mình tự chứng minh hoặc nhờ người bào chữa được bắt đầu khi nào. Phần lớn tâm lý con người vẫn đang nghĩ đến khi có phiên tòa mới có người bào chữa.
Tóm lại, nguyên tắc Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội mang ý nghĩa to lớn cho sự phát triển nền tư pháp dân chủ. Từ đó, tạo tiền đề giúp xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam phát triển theo đúng mục tiêu nhân quyền, bình đẳng và công bằng, văn minh.
VL Lawyers rất vinh hạnh hợp tác phát triển cùng Quý vị! Vấn đề của bạn – Trách nhiệm của chúng tôi.
Trân trọng kính chào!
Luật sư Vũ Đức Lê – Trưởng văn phòng!



