TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY THIỆT HẠI ĐẾN TÀI SẢN CỦA NHÀ NƯỚC, CƠ QUAN, TỔ CHỨC, DOANH NGHIỆP
A. Căn cứ pháp lý
Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) – Điều 179. “Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp”
1. Người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
3. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trị giá 2.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
4. Người phạm tội còn có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
B. Các yếu tố cấu thành tội phạm
Để xác định một người phạm tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phải thỏa đồng thời 4 yếu tố sau:
1. Chủ thể
Chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý, bảo vệ tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
Người có trách nhiệm quản lý gián tiếp đối với tài sản như Thủ trưởng đơn vị không phải là chủ thể của tội này.
2. Khách thể
Tội phạm xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản từ người có trách nhiệm quản lý tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
Đối với tài sản của Nhà nước thì Nhà nước không trực tiếp chiếm hữu, sử dụng các tài sản mà giao hoặc cấp phát cho các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội trực tiếp quản lý sử dụng theo quy định của pháp luật.
Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp bao gồm vật, tiền.
3. Mặt khách quan
+ Về hành vi: Có hành vi thiếu trách nhiệm làm mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại cho tài sản.
Hành vi thiếu trách nhiệm là trường hợp người phạm tội không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các vi phạm được quy định về quản lý, sử dụng, bảo vệ tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp gây mất mát, hư hỏng, lãng phí, làm thiệt hại cho tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
+ Về hậu quả của hành vi phạm tội:
Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp là tội phạm có cấu thành vật chất, vì vậy dấu hiệu bắt buộc đối với tội phạm này là hậu quả gây thiệt hại về tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên, ngoài ra không còn thiệt hại nào khác.
Mối quan hệ nhân quả của hành vi thiếu trách nhiệm làm mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại cho tài sản là hành vi thiếu trách nhiệm để mất mát, hư hỏng tài sản chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hậu quả của tội phạm xảy ra, nếu thiệt hại đó không phải do hành vi thiếu trách nhiệm gây ra thì không được tính để xác định hậu quả của tội phạm này.
4. Mặt chủ quan
Người phạm tội thực hiện với lỗi vô ý. Trong đó, bao gồm do lỗi vô ý vì cẩu thả, hoặc vô ý vì quá tự tin.
+ Lỗi vô ý vì quá tự tin: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được (khoản 1 Điều 11 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017).
+ Lỗi vô ý vì cẩu thả: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó (khoản 2 Điều 11 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017).
C. Luật sư – VL Lawyers nhận định
Phân biệt tội Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179 BLHS) với tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 360 BLHS). Ở hai tội danh này, dấu hiệu đặc trưng nhất để nhận biết là chủ thể, khách thể và hậu quả của hành vi phạm tội.
Về mặt chủ thể, giữa hai tội này đều có chủ thể từ đủ 16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, đối với tội Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phải là người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý, bảo vệ tài sản. Còn đối với tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là chủ thể đặc biệt, gồm những người có chức vụ, quyền hạn mới là chủ thể của tội phạm này.
Tiếp đến là khách thể, tội Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng thì thuộc nhóm các tội phạm về chức vụ.
Về hậu quả của hành vi phạm tội, tội Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp người phạm tội chỉ gây thiệt hại về tài sản, còn tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng ngoài thiệt hại về tài sản, người phạm tội còn gây ra những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của người khác, tùy trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý làm chết người hoặc tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn đến sức khỏe của người khác. Ngoài ra trách nhiệm của người phạm tội này là trách nhiệm gián tiếp đối với hậu quả xảy ra – hành vi thiếu trách nhiệm không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả nghiêm trọng. Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt với tội Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
Theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Hình sự 2015, tùy thuộc vào mức độ hư hỏng và thiệt hại cho tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp quy định về mức phạt cao nhất đối với tội Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Bị phạt cảnh cáo hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm trường hợp tài sản bị thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm trường hợp tài sản bị thiệt hại trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng. Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Theo quy định tại Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015, tùy theo từng hành vi phạm tội và giá trị tài sản bị thiệt hại mà người phạm tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức phạt tối đa dành cho người phạm tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng có thể lên đến 12 năm tù.
Ngoài ra, trong một số trường hợp, người phạm tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự do hành vi vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 137 BLHS).
VL Lawyers – Vấn đề của bạn, trách nhiệm của chúng tôi. Hãy liên hệ với VL Lawyers khi Quý vị hoặc Người thân của Quý vị không may đã phạm tội.
VL Lawyers rất vinh hạnh hợp tác phát triển cùng Quý vị!
Trân trọng kính chào!
Luật sư Vũ Đức Lê – Trưởng văn phòng!



